Hiểu thêm về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Hiểu thêm về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
195

Niềm tin dân tộc Đó là giá trị tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, người đã có công lập ra nước Văn Lang đầu tiên. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng dân gian,...

Niềm tin dân tộc

Đó là giá trị tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, người đã có công lập ra nước Văn Lang đầu tiên. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng dân gian, lòng thành kính và thái độ biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, là kết quả của sự đan xen giữa lịch sử 4.000 năm nước Đại Việt và huyền thoại Hùng Vương.

Trải qua thời gian, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã vận động, biến đổi và trở thành một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng đa nghĩa, đa giá trị. Bốn chữ "Nam Việt triệu Tổ" ở đền Thượng tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh thể hiện sâu sắc quan niệm Tổ muôn đời của nước Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, chưa có quốc gia nào trên thế giới thờ Tổ như ở Việt Nam.

Thờ cúng Hùng Vương đã và đang có sức lan tỏa mãnh liệt, trở thành chất keo bền chặt gắn nghĩa "đồng bào". Hàng năm, cứ đến tháng ba âm lịch, người người lại đua nhau trảy hội về đền Hùng. Họ đến đền Hùng không chỉ để cầu mưa thuận, gió hòa cho một năm yên vui mà còn đến để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc cũng như ý thức tôn vinh công lao dựng nước của các Vua Hùng. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vì thế đã trở thành bản sắc văn hóa đặc biệt của dân tộc Việt Nam...

Theo PGS. TS Bùi Quang Thanh, không gian văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thực sự là một điều "hấp dẫn", bởi cho đến nay, trong nhận thức, quan niệm của đa số các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, không gian văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ gần như chỉ được giới hạn ở phạm vi hành chính của các làng xã thuộc TP Việt Trì và một phần của huyện Lâm Thao, mà trung tâm rực rỡ nhất là khu vực Nghĩa Lĩnh - Hy Cương.Tuy nhiên, soi vào thực tiễn thì hiện trạng của không gian văn hóa tín ngưỡng gắn với tục thờ cúng các Vua Hùng lại vô cùng rộng mở. 
Tìm hiểu di tích tín ngưỡng thờ Vua Hùng tại Nghĩa Lĩnh, hiện thấy cả 3 ngôi đền (đền Thượng, đền Trung và đền Hạ) đều đặt 4 ngai thờ, trong đó có 3 ngai được mang các hiệu danh: Ất Sơn Thánh Vương vị, Đọt Ngột Cao Sơn hiểm hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị, Viễn Sơn Thánh Vương vị (đền Thượng) và Ất Sơn Thánh vương Thánh vị, Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế Thánh Vương Thánh vị, Viễn Sơn Thánh vương Thánh vị (đền Hạ và đền Trung).

Trong số nhiều di tích thờ tự tại tỉnh Phú Thọ, có khoảng 20 di tích thờ tự (đình, đền, miếu) được người dân gọi đích danh là nơi thờ phụng các Vua Hùng, thông qua các các bức đại tự hoặc biển hiệu tại đền, đình, miếu được dân chúng dựng lên và thực hành tín ngưỡng (đa số các làng/thôn thuộc TP Việt Trì và huyện Lâm Thao), còn lại là những di tích (chiếm số lượng lớn) mang danh thờ phụng Cao Sơn Thánh Vương, Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn Thánh Vương, Viễn Sơn Thánh Vương hoặc gọi chung là thờ Đức Vua hay bằng các tự danh khác, như Chàng Cả đại vương, Chàng Hai đại vương, Chàng Ba đại vương, Tam vị Đại Vương, Nhị vị Đại Vương,...

Ngàỵ 6-12-2012, ủy ban Liên Chính phủ thuộc UNESCO công bố danh sách 17 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại, trong đó có "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" của Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước, có lẽ chưa có một quốc gia nào trên thế giới có tín ngưỡng thờ Tổ với phạm vi rộng lớn và trường tồn qua hàng ngàn năm lịch sử như ở Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là biểu trưng cho triết lý nhân văn "con người có tổ có tông" của văn hóa Việt Nam. Đây là hiện tượng độc đáo nhất trên thế giới khi cả một quốc gia, một dân tộc tự coi mình có chung nguồn gốc. Trong số 37 hồ sơ được xem xét và bỏ phiếu để trở thành di sản của nhân loại trong Kỳ họp thứ 7 của Hội đồng Liên quốc gia về Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể UNESCO, hồ sơ "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ" của Việt Nam được đánh giá rất cao và nhận được số phiếu gần như tuyệt đối của Hội đồng chuyên gia UNESCO.

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, việc cả dân tộc tôn vinh vị "cha chung" bắt nguồn từ đặc thù lịch sử Việt Nam.Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, cho dù có sự xâm lăng về văn hóa nhưng đến nay, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không bị lai căng. Nhận định về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt, TS. Peter Knecht (ĐH Aichi Gakuin, Nhật Bản), cho rằng, tín ngưỡng thờ Hùng Vương chính là sợi chỉ gắn kết người Việt khắp mọi miền đất nước lại với nhau. 
Sau khi di sản này được UNESCO công nhận, tác động này càng rõ nét. PGS.TS Diana Thram (ĐH Rhodes, Nam Phi), người có 20 năm nghiên cứu Lễ hội Đền Hùng nói: "Đã có lúc tôi băn khoăn, tín ngưỡng thờ Hùng Vương là tôn giáo hay một tập tục, nghi lễ xã hội, có sức mạnh tâm linh to lớn, thậm chí như một sức mạnh chính trị nào đó". PGS.TS Diana Thram cho rằng, tín ngưỡng thờ Hùng Vương chính là sợi chỉ đỏ tâm linh, động lực tinh thần gắn kết toàn dân tộc, nên người Việt ở đâu muốn hành hương về đất tổ.

Bảo tồn và phát huy di sn

Trong kho tàng di sản đa dạng thì tập quán, nghi lễ và lễ hội về Hùng Vương là một lĩnh vực di sản vô cùng quan trọng. Đó là ký ức sống về thời Hùng Vương. Trải qua bao cuộc chiến tranh với những thăng trầm của lịch sử nhưng tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vẫn luôn được duy trì và phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi ý chí, tinh thần của cả quốc gia, dân tộc.

Bởi vậy mà giỗ Tổ Hùng Vương từ bao đời nay là biểu tượng đã ăn sâu vào tâm khảm thiêng liêng của mỗi người dân đất Việt; là điểm hội tụ tâm tinh, hội tụ bản sắc văn hóa và tinh thẩn đại đoàn kết dân tộc.

Đại diện Khu di tích lịch sử đền Hùng, hàng năm, tỉnh thường xuyên kiểm kê khoa học tín ngưỡng thờ Hùng Vương của người Việt ở Phú Thọ; mở rộng địa bàn kiểm kê khoa học về tín ngưỡng thờ các Vua Hùng với các di tích trên địa bàn cả nước và một số di tích trọng điểm thờ Vua Hùng ở nước ngoài; sưu tầm, nghiên cứu các nghi thức, trò diễn liên quan đến tín ngưỡng thờ Hùng Vương của người Việt ở Phú Thọ, ở các làng quê trên địa bàn; sưu tập, phân loại, dịch ra chữ quốc ngữ các ngọc phả, văn bia, thần tích, sắc phong liên quan đến tín ngưỡng thờ Hùng Vương; bảo tồn, tôn tạo những di sản vật thể ở đền thờ Vua Hùng ở các làng thuộc tỉnh Phú Thọ; hỗ trợ cộng đồng tổ chức các nhóm truyền dạy, nghi lễ, trò diễn, các thực hành xã hội của tín ngưỡng thờ Hùng Vương của người Việt ở Phú Thọ...

Để phục hồi, duy trì và bảo tồn bền vững di sản này trong cuộc sống hôm nay, trước hết cần nhận dạng đầy đủ các yếu tố của di sản một cách khoa học. Cần kiểm kê với sự tham gia của cộng đồng và kết quả của kiểm kê là kế hoạch và biện pháp bảo vệ do cộng đồng xây dựng với sự hiểu biết đầy đủ. Ngoài ra, các không gian văn hóa liên quan đến "Tín ngưỡng thờ Hùng Vương" cần được giới thiệu một cách chuyên nghiệp và sâu sắc những nét đặc trưng của di sản văn hóa.

Để đạt được điều đó, việc đào tạo một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp là rất quan trọng; từ những người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu cho đến đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ có kiến thức sâu rộng về văn hóa và du lịch, đặc biệt phải có kiến thức về việc bảo tồn di sản văn hóa, các quy tắc, chuẩn mực, mục tiêu và các yêu cầu trong việc thực hiện các công việc chuyên môn.

Bên cạnh đó, nên khuyến khích các cộng đồng tự quản lý di sản văn hóa của mình. Phải đào tạo và trang bị cho cộng đồng những kiến thức để tự quản một cách hợp lý. Do đó, rất cần thiết nâng cao nhận thức cho cộng đồng và khuyến khích họ quản lý những di sản đó cho thật tốt.

Theo Thủy Liên (Pháp luật và Xã hội)

 

 

Nguồn thông tin được HOCHOIMOINGAY.com sưu tầm từ Internet

Thích và chia sẻ
Tham gia Page cộng đồng

Danh mục hot

Scroll